Skip to content

sáng kiến kinh nghiệm

10/01/2012

A. PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

          Tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của con người. Với cộng đồng, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Đối với trẻ em, tiếng mẹ đẻ càng có vai trò quan trọng. K.A.Usinxki đã chỉ rõ: “Trẻ em đi vào trong đời sống tinh thần của mỗi người xung quanh nó, duy nhất thông qua tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao la quanh đứa trẻ được phản ánh trong nó thông qua chính công cụ này”. Trẻ em cần được học tiếng mẹ đẻ một cách khoa học cẩn thận để có thể sử dụng công cụ này suốt cuộc đời. Tiếng mẹ đẻ và toán học là những môn học công cụ quan trọng ở Tiểu học. Khi trở thành một môn học, tiếng mẹ đẻ có tính chất lưỡng phân: nó vừa là đối tượng học tập và chiếm lĩnh của học sinh, vừa tạo cho các em công cụ để học tập, tư duy và giao tiếp.

          Do tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ, không quốc gia nào không chăm lo việc dạy môn học này trong nhà trường, đặc biệt là trường Tiểu học. Môn học tiếng mẹ đẻ là một môn học chiếm thời gian học tập nhiều nhất ở bậc Tiểu học. Ở Việt Nam, thời lượng học tập Tiếng Việt ở bậc Tiểu học chiếm 34,2% thời lượng học tập. Mục tiêu hàng đầu của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học là : “Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động lứa tuổi“. Phân môn Kể chuyện rèn các kĩ năng nói, nghe và đọc cho học sinh. Kể chuyện là hình thức trình bày lại câu chuyện bằng lời kể một cách hấp dẫn, sáng tạo giàu ngữ điệu và có sự phối hợp diễn xuất qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của người kể một cách tự nhiên nhằm truyền cảm đến người nghe. Trong giờ kể truyện ở lớp 4, học sinh không kể lại những câu chuyện được học trong bài tập đọc như ở lớp 2, 3 nữa mà tập kể những câu chuyện được nghe thầy, cô kể trên lớp hoặc được nghe, được đọc, được chứng kiến, tham gia trong đời sống hàng ngày phù hợp với chủ điểm mà các em đang đọc.

          Như vậy, phân môn kể chuyện lớp 4 vừa củng cố kĩ năng kể chuyện được hình thành ở các lớp dưới, vừa hình thành những kĩ năng kể chuyện mới. Ngoài ra, phân môn này còn có nhiệm vụ bồi dưỡng tâm hồn, tăng vốn sống, vốn văn học cho học sinh. Học sinh rất hứng thú với môn này nhưng để tổ chức thành công một giờ dạy – học kể chuyện thì không hề đơn giản. Vì những lí do nêu trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Dạy Kể chuyện lớp 4″.

II. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

- Hai lớp 4 do tôi chủ nhiệm và giảng dạy ở hai năm học: Năm học 2009- 2010 và Năm học 2010- 2011.

- Nghiên cứu về nội dung, phương pháp , hình thức tổ chức dạy- học Kể chuyện lớp 4.

III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu mục tiêu nội dung chương trình, mục tiêu, yêu cầu về kiến thức kĩ  năng môn Tiếng Việt 4 nói chung và mục tiêu của phân môn Kể chuyện nói riêng.

-  Tìm hiểu thực trạng của việc dạy – học Kể chuyện, phân tích nguyên nhân để tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Kể chuyện. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân và đồng nghiệp trong quá trình dạy – học.

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

          1- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.

          2- Phương pháp điều tra.

          3- Phương pháp thực nghiệm.

          4- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

B. PHẦN NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:

       Khác với lớp 2 và 3, mỗi tuần học sinh chỉ kể một câu chuyện vừa học trong bài tập đọc, lên lớp 4, mỗi tuần học sinh cũng kể một câu chuyện nhưng đó không phải chuyện đã học trong bài tập đọc. Phân môn Kể chuyện giúp học sinh củng cố kĩ năng kể chuyện đã được hình thành và rèn luyện ở lớp dưới, đồng thời hình thành kĩ năng mới về kể chuyện và giúp học sinh mở rộng hiểu biết, góp phần hình thành nhận cách con người mới. Cụ thể:

a) Củng cố kĩ năng kể chuyện đã được hình thành ở các lớp dưới

          Học sinh lớp 4 tiếp tục đượcc củng cố kĩ năng kể chuyện qua bài tập nghe kể lại câu chuyện vừa được giáo viên kể trên lớp. Đây là kiểu bài tập được thực hiện ở tuần thứ nhất trong một chủ điểm 3 tuần học. Trong trường hợp này, câu chuyện (có độ dài khoảng trên dưới 500 chữ) được in trong SGK, trình bày thành tranh hoặc tranh kèm theo lời dẫn giải ngắn gọn trong SGK. Câu chuyện được giáo viên kể cho học sinh nghe, rồi học sinh kể lại. Bên cạnh những mục đích chung là rèn kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài này còn có mục đích rèn kĩ năng nghe. Học sinh không những rèn luyện nghe đúng, chính xác và còn được rèn luyện kĩ năng nghe hiểu nội dung câu chuyện để sau đó có khả năng tái tạo lại câu chuyện đó.

b) Hình thành kĩ năng kể chuyện mới.

          – Kể chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ Kể chuyện

          Đây là kiểu bài tập kể chuyện tuần thứ 2 trong một chủ điểm học tập ở lớp 4. Riêng với hai chủ điểm mở đầu sách là”Thương người như thể thương thân, Măng mọc thẳng” thì kiểu bài này có cả ở tuần thứ 3. Những câu chuyện này, học sinh phải tự sưu tầm trong sách báo dành cho thiếu niên, nhi đồng hoặc trong đời sống hàng ngày (nghe người thân hoặc nghe ai đó kể). Sau đó các em đọc kĩ để nhớ hoặc thuộc truyện và kể lại. Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài tập trên còn có mục đích kích thích học sinh ham đọc sách.

          – Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia.

          Đây là kiểu bài tập kể chuyện ở tuần thứ 3 trong một chủ điểm học tập. Bài tập này yêu cầu học sinh kể những chuyện người thật, việc thật có trong cuộc

sống xung quanh mà các em đã biết, đã nhìn, đã thấy (có thể thấy trên sân khấu, ti vi,…) có khi chính các em là nhân vật trong truyện. Các bài tập kể chuyện đã chứng kiến, tham gia trong SGK Tiếng Việt 4 rất đa dạng vì gần với 10 chủ điểm sách.

          + Thương người như thể thương thân ( lòng nhân ái)

          + Măng mọc thẳng ( tính trung thực, lòng tự trọng)

          + Trên đôi cánh ước mơ ( ước mơ)

          + Có chí thì nên ( nghị lực)

          + Tiếng sáo diều ( vui chơi)

          + Người ta là hoa đất ( năng lực, tài trí)

          + Vẻ đẹp muôn màu (óc thẩm mĩ)

          + Những người quả cảm ( lòng dũng cảm)

          + Khám phá thế giới ( du lịch, thám hiểm)

          + Tình yêu cuộc sống ( lạc quan, yêu đời)

          Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài này còn có mục đích rèn cho học sinh thói quen quan sát, ghi nhớ.

          Rõ ràng, chúng ta thấy, kể chuyện có tác dụng rất lớn trong việc rèn kĩ năng nói cho học sinh. Khi kĩ năng nói đã được nâng cao, các em trở nên tự tin hơn, mạnh dạn hơn và đó cũng là tiền đề tốt để tạo ra một lớp người năng động, sáng tạo trong tương lai.

c) Mở rộng và tích cực hoá vốn từ ngữ, phát triển tư duy, nâng cao hiểu biết về đời sống, góp phần hình thành nhân cách con người mới.

          So với các câu chuyện ở lớp 3 thì 11 câu chuyện học sinh được nghe giáo viên kể ở lớp 4 có tình tiết phức tạp hơn, nội dung sâu sắc hơn, nói về những phẩm chất đáng quý mà con người cần rèn luyện gắn với 10 chủ điểm trong SGK Tiếng Việt 4. Những câu chuyện hấp dẫn, cảm động, giàu ý nghĩa này sẽ tác động mạnh đến học sinh, giúp các em rút ra được những bài học nhận thức sâu sắc. Ví dụ: Người có lòng nhân hậu sẽ được đền đáp xứng đáng (sự tích Hồ Ba bể); phải bình tĩnh ứng xử thông minh, tài trí trong hoàn cảnh khó khăn để cứu mình (Bác đánh cá và gã hung thần)…

          Bên cạnh kiểu bài đã nói ở trên, 2 kiểu bài mới xuất hiện trong sách Tiếng Việt 4 là “ Kể chuyện đã nghe, đã đọc” và “ Kể chuyện đã chứng kiến, tham gia” vừa kích thích học sinh ham đọc sách ngoài nhà trường, vừa rèn luyện cho học sinh quan sát về những người xung quanh về cuộc sống trong gia đình, lớp học, ngoài xã hội. Văn học trong nhà trường theo cách đó sẽ gắn liền với văn học ngoài đời sống.

       

II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:

 

          Trẻ em rất thích nghe kể chuyện và luôn có nhu cầu nghe chuyện. Điều đó dễ hiểu qua thực tiễn cuộc sống, trẻ sơ sinh được mẹ ôm ấp – ru nựng, rồi đến khi bập bẹ tập nói, trẻ có nhu cầu nghe, đã nghe không biết chán những câu chuyện cổ tích do người lớn kể. Và cũng ngay từ lúc biết nói, trẻ cũng đã bi bô kể cho người thân nghe những chuyện xảy ra xung quanh bé tại lớp mẫu giáo. Khi trẻ vào Tiểu học, cái nhu cầu muốn nghe và muốn kể của trẻ vẫn không hề thay đổi. Dạy kể chuyện trong trường Tiểu học không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là kể những câu chuyện có sẵn mà cao hơn thế còn phải dạy cho học sinh cách học kể chuyện rồi biết kể chuyện. Đó là mục tiêu riêng trong phân môn và đồng thời cũng là mục tiêu chung của môn Tiếng Việt.

          Trong thực tế giảng dạy trong môn Kể chuyện lớp 4, tôi thấy một số giáo viên đã thể hiện đổi mới phương pháp dạy học, giúp học sinh rèn kĩ năng nói, nghe, đọc khá tốt. Bên cạnh đó cũng còn một số giáo viên và học sinh còn lúng túng khi dạy và học phân môn này như:

a) Về phía giáo viên:

          – Còn giảng giải quá nhiều trong phần hướng dẫn học sinh tìm chọn chuyện phù hợp với chủ điểm (đối với kiểu 2 và kiểu 3) làm mất thời gian kể chuyện của học sinh.

          – Giáo viên chưa quan tâm ( hoặc còn ngại ngùng) đến thể hiện giọng điệu, cử chỉ, nét mặt của mình khi kể chuyện cho học sinh nghe (đối với kiểu 1) nên đã kém đi sự hấp dẫn của câu chuyện. Do đó, làm giảm hứng thú muốn kể lại câu chuyện đó của học sinh.

          – Giáo viên chưa thực sự coi trọng việc kể chuyện theo nhóm đôi hay nhóm lớn trong học sinh.

          – Giáo viên cũng chưa đưa ra được các hình thức động viên, khuyến khích kịp thời để khích lệ sự cố gắng trong kể chuyện của học sinh.

b) Về phía học sinh.

          – Nhiều học sinh còn rụt rè, nhút nhát, đặc biệt là những học sinh chậm.   – Các câu hỏi học sinh đưa ra để trao đổi, thảo luận quanh câu chuyện còn đơn điệu theo lối mòn.

          – Số học sinh kể chuyện diễn cảm, sống thực sự với nhân vật, hoá thân vào câu chuyện rất ít.

          – Trong một giờ kể chuyện, số học sinh được kể trước lớp chưa nhiều.

          – Học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm những câu chuyện được chứng kiến hoặc tham gia theo chủ đề.

 

III. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN

1. Đối với từng kiểu bài:

1.1. Đối với kiểu bài: Nghe – Kể lại câu chuyện vừa nghe.

          Với kiểu bài này thì ở chương trình lớp 4, tác dụng rèn kĩ năng nghe rất rõ vì văn bản truyện được in trong SGV, học sinh không được đọc trước, biết trước. Khi nghe giáo viên kể một câu chuyện hấp dẫn thì học sinh sẽ bị lôi cuốn vào câu chuyện đó rất nhanh. Các em sẽ hồi hộp, sẽ sung sướng, sẽ buồn lo với số phận các nhân vật trong truyện và như vậy cùng với giáo viên, các em sẽ là người đồng cảm thụ. Sự truyền cảm ở đây giống như một phản ứng dây chuyền. Lúc đầu xuất hiện ở tâm hồn người giáo viên rồi truyền đến trái tim ngây thơ của các em. Việc ghi nhớ tình tiết câu chuyện cũng tự phát được hình thành, việc thấm thía ý nghĩa giáo dục của câu chuyện cũng đồng thời được nảy sinh. Để thu hút sự chăm chú theo dõi của học sinh (mà nhiệm vụ của các em sau đó kể lại và trao đổi với nhau về nội dung, nhân vật…trong câu chuyện), tôi đã sử dụng các biện pháp sau:

* Biện pháp 1: Giáo viên đọc và tìm hiểu kĩ câu chuyện sắp kể.

          Với mỗi câu chuyện, tôi thường đọc đi đọc lại nhiều lần, nghiền ngẫm, suy nghĩ về từng nhân vật, từng chi tiết trong truyện  để  hiểu  truyện. Tôi luôn tự hỏi: Câu chuyện có những nhân vật nào? Tính cách của từng nhân vật ra sao? Cần làm rõ điều gì ở từng nhân vật? Câu chuyện này nói về điều gì? Có ý nghĩa như thế nào? Qua câu chuyện, các em học tập được điều gì?…. Khi đã trả lời được các câu hỏi đó tức là đã hiểu truyện, câu chuyện đã “thấm” vào mình. Và như vậy là mình đã sống với từng nhân vật, có thế lời kể của giáo viên (phương tiện trực quan quan trọng nhất) mới có ấn tượng sâu sắc đối với học sinh.

* Biện pháp 2: Giáo viên chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo và sử dụng đồ dùng có hiệu quả.

          – Tranh ảnh hay các mẫu vật có sức thu hút đặc biệt lớn đối với học sinh Tiểu học. Để giúp học sinh nhanh nhớ và hiểu sâu sắc câu chuyện thì người giáo viên cần chú ý đến điều này. Sử dụng tranh minh hoạ có hiệu quả sẽ có tác dụng rất lớn đối với học sinh. Các câu chuyện ở kiểu bài 1 đều có tranh minh hoạ trong bộ đồ dùng của Bộ Giáo Dục. Đó là những tranh vẽ đẹp được phóng to từ tranh minh hoạ trong SGK của học sinh. Ngoài ra, giáo viên có thể sưu tầm thêm một số bộ tranh ảnh khác liên quan đến câu chuyện.

          Ví dụ: Để phục vụ cho câu chuyện “Sự tích Hồ Ba Bể” ngoài tranh có sẵn trong bộ đồ dùng, tôi đã sưu tầm thêm một số ảnh chụp cảnh hồ Ba Bể ngày nay, đưa cho học sinh quan sát thêm khi giới thiệu bài hoặc khi củng cố bài.

          – Để phát huy tác dụng của tranh trong SGK của học sinh, trước khi kể chuyện lần thứ nhất, tôi yêu cầu các em quan sát tranh minh hoạ và gợi ý dưới tranh cũng như yêu cầu các em đọc yêu cầu của giờ chuyện, nhằm giúp các em có ấn tượng chung về câu chuyện.

          – Khi kể chuyện lần 2, giáo viên vừa kể vừa chỉ tranh (treo trên bảng). Lúc này tranh minh hoạ như điểm tựa để học sinh phát huy trí tưởng tượng khi nghe kể chuyện, tạo thêm sức hấp dẫn cho tiết học, giúp các em ghi nhớ nội dung câu chuyện.

         – Khi các em luyện kể chuyện, các em sẽ dựa vào tranh để kể theo từng đoạn và cả truyện. Đặc biệt những học sinh có khả năng diễn đạt yếu, cùng với lời gợi ý của giáo viên thì tranh minh hoạ giúp các em rất nhiều trong việc ghi nhớ và tái hiện câu chuyện.

* Biện pháp 3: Giáo viên rèn luyện để có cách kể chuyện hấp dẫn:

          Đối với học sinh, đặc biệt là học sinh Tiểu học, cô giáo, thầy giáo luôn là “thần tượng“. Các em luôn muốn được “như cô giáo, thầy giáo”.  Vậy nên, những

 câu chuyện có nội dung hấp dẫn, đầy ý nghĩa giáo dục do cô giáo, thầy giáo kể kết hợp với giọng điệu, nét mặt, cử chỉ sinh động, luôn cuốn hút học sinh và ngay lập tức các em cũng muốn được thể hiện giống như thế. Vậy nên, người giáo viên cần

có cách kể chuyện để hấp dẫn học sinh. Muốn vậy, trước tiên, người giáo viên cần phải biết vượt qua sự ngại ngùng vốn có trong mỗi người và cần phải rèn luyện.

          Để kể chuyện mẫu thành công, tôi đã làm một số việc sau:

          – Đọc kĩ câu chuyện, hiểu câu chuyện.

          – Xác định và thể hiện giọng điệu của từng đoạn truyện

          Ví dụ: Truyện “Sự tích Hồ Ba Bể” – Tuần 1.

          Giọng kể thong thả, rõ ràng, nhanh hơn ở đoạn 4 kể về tai hoạ trong đêm hội, chậm rãi ở đoạn kết. Nhấn giọng những từ ngữ gợi cảm, gợi tả về hình dáng khổ sở của bà cụ ăn xin, sự xuất hiện của con giao long, nỗi khiếp sợ của hai mẹ con bà nông dân, nỗi kinh hoàng của mọi người khi đất dưới chân rung chuyển.

          – Xác định lời của từng nhân vật:

          Ví dụ: Truyện “Búp bê của ai” – Tuần 14

          + Lời búp bê lúc đầu: tủi thân, sau sung sướng

          + Lời lật đật: oán trách.

          + Lời Nga: hỏi ầm lên, đỏng đảnh

          + Lời cô bé: dịu dàng, ân cần

          – Tập kể:

          Sau khi đã nắm chắc nội dung, xác định rõ giọng điệu của từng đoạn truyện, từng nhân vật, tôi tiến hành bước tập kể. Đôi khi phải luyện kể đi kể lại nhiều lần một đoạn hoặc cả câu chuyện. Cùng với giọng điệu, tôi cũng cần chú ý tới các yếu tố phụ trợ như cử chỉ, nét mặt, điệu bộ của mình thay đổi phù hợp với tình tiết, diễn biến câu chuyện.

* Biện pháp 4: Kể chuyện sinh động trước học sinh

          Đây là điều cực kỳ quan trọng và có sức thuyết phục lớn, lôi cuốn được học sinh. Khi đã chuẩn bị kĩ càng thì đạt được điều này là điều không hề khó.

* Kết quả đạt được

          – Năm học 2009 – 2010, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4B. Khi chưa thực hiện các biện pháp nêu trên, kết quả thi kể chuyện của các em như sau: (giai đoạn giữa học kì II)

 

Số HS tham gia

Số HS

đạt điểm 9-10

Số HS

đạt điểm 7-8

Số HS

đạt điểm 5-6

Số HS

đạt điểm dưới 5

      35 em

  5em = 14%

17 em = 49%

12 em = 34%

1 em = 3%

          – Năm học 2010 – 2011, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy 4A, trình độ nhận thức của các em tương đương với trình độ học sinh lớp 4B năm học trước. Sau khi tiến hành thực hiện các biện pháp nêu trên, kết quả thi kể chuyện của các em như sau: (cùng giai đoạn giữa học kì II).

 

Số HS tham gia

Số HS

đạt điểm 9-10

Số HS

đạt điểm 7-8

Số HS

đạt điểm 5 -6

Số HS

đạt điểm dưới 5

      33 em

10 em = 30%

17em= 51,5%

6 em = 18,5%

    0 em

  Nhìn vào kết quả trên ta thấy, sau khi tiến hành thực hiện các biện pháp nêu trên, số học sinh đạt điểm giỏi cao hơn hẳn, học sinh rất nhớ truyện và kể chuyện sinh động hơn.

1.2. Đối với kiểu bài: “Kể chuyện đã nghe đã đọc” ngoài giờ kể chuyện

          Kể chuyện đã nghe, đã đọc là cách làm thường thấy trong đời sống. Ông bà, bố mẹ kể cho con cháu truyện cổ tích đã đọc, đã biết. Một học sinh kể lại cho bạn nghe những câu chuyện sau khi mình đã được đọc hoặc được nghe ông bà, bố mẹ kể. Ở lớp 4, kiểu bài này gắn bó với chủ đề cụ thể của tuần học. Như vậy, không chỉ đơn giản là tìm truyện và kể lại mà kiểu bài này yêu cầu các em phải tìm và kể lại được những câu chuyện theo đúng chủ đề. Với kiểu bài này, ngoài

mục đích chung là rèn kĩ năng nói và nghe, mục đích riêng kích thích học sinh ham đọc sách là rất rõ ràng. Để đạt được mục tiêu này, một số biện pháp tôi đã thực hiện là:

* Biện pháp 1: Giao nhiệm vụ cụ thể để học sinh tìm, lựa chọn câu chuyện đã nghe, đã đọc đúng chủ đề.

          Sự  định  hướng của giáo viên về chủ đề của tiết kể chuyện trước đó 1 tuần là vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ cho thành công của tiết dạy. Khi yêu cầu học sinh chuẩn bị bài, tôi luôn luôn chú ý đến học sinh ở mọi trình độ đều tìm được những câu chuyện phù hợp với khả năng của mình. Trong một vài trường hợp cụ thể, nếu học sinh không tìm được những câu chuyện khác thì có thể gợi ý học sinh kể lại những câu chuyện đã học trong SGK Tiếng Việt 2, Tiếng Việt 3, Tiếng Việt 4.

          VD: Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Tuần 12)

          Đề bài: Hãy kể lại một câu chuyện mà em đã được nghe học được đọc về một người có nghị lực.

          Học sinh có thể kể những câu chuyện trong SGK như: “Vua tàu thuỷ”, Bạch Thái Bưởi (Tiếng Việt 4 – tập 1), Người trí thức yêu nước (Tiếng Việt 3 – tập 2); Có công mài sắt, có ngày nên kim (Tiếng Việt 2 – tập 1)

* Biện pháp 2: Nhắc học sinh đọc kĩ câu chuyện.

          – Học sinh đọc kĩ câu chuyện để nhớ, thâm chí là thuộc, để các em còn phải kể lại.

          Với kiểu bài kể chuyện này (qua chuyên đề gắn với hội giảng của tổ tôi) có giáo viên cho rằng học sinh thuộc truyện quá thì giờ dạy sẽ mất tự nhiên. Theo tôi, nếu quan niệm rằng giờ Kể chuyện đã nghe, đã đọc có thể thành công mà học sinh không cần chuẩn bị, không cần thuộc truyện thì rất sai lầm. Dĩ nhiên là giờ kể chuyện đã nghe, đã đọc không rèn kĩ năng học thuộc lòng. Tuy vậy, khi chuẩn bị cho giờ học, học sinh phải đọc kĩ truyện, nhờ đó mà nhớ truyện, thuộc truyện. Trẻ em vốn có trí nhớ tốt hơn người lớn rất nhiều nên nếu có thuộc truyện thì đó cũng là điều bình thường. Ngay cả giáo viên, muốn kể thật trôi chảy, hấp dẫn cũng phải thuộc, phải hiểu truyện mới kể được. Vì vậy không nên và cũng không thể cấm học sinh thuộc lòng câu chuyện các em sẽ kể trên lớp. Nếu có học sinh do đọc kĩ mà thuộc truyện, kể sinh động, biểu cảm như sống với câu chuyện thì giáo viên nên đặc biệt khen ngợi học sinh đó. Nhờ thuộc lòng nhờ vậy, ngôn ngữ văn học sẽ thấm vào trẻ, dần dần chuyển hoá, đến lúc nào đó, trẻ sẽ biết dùng lại chúng một cách tự nhiên. Khi trẻ kể được một cách sống động nghĩa là các em đã sáng tạo, đã đưa được cảm xúc riêng của mình vào trong câu chuyện, làm cho văn bản truyện trở thành câu chuyện của riêng mình. Chỉ trong trường hợp kể như đọc văn bản, vừa kể vừa cố nhớ lại một cách máy móc văn bản. Giáo viên mới nhận xét kể như thế chưa đạt yêu cầu vì đó là cố gắng đọc thuộc, không phải là kể.

* Biện pháp 3: Dừng hợp lí.

          Trong thực tế giảng dạy kể chuyện, bất kì giáo viên nào cũng từng gặp trong trường hợp học sinh kể một câu chuyện khá dài. Nếu để các em kể hết câu chuyện đó thì sẽ mất thời gian của các em khác mà cũng dễ gây ra cảm giác chán với học sinh nghe. Nếu yêu cầu các em kể tóm tắt là một yêu cầu quá khó mà học sinh có thể sẽ làm mất đi những chi tiết thú vị, những hình ảnh đẹp hay từ ngữ gợi cảm. Để tạo điều kiện cho các em kể chuyện dễ dàng, tôi cho các em dừng hợp lí hoặc cho các em tự chọn một hai đoạn mình thích để kể và nhắc các em sẽ kể tiếp cho nhau nghe trong giờ ra chơi.

* Biện pháp 4: Khuyến khích học sinh ham đọc sách.

          Kiểu bài đã nghe, đã đọc ngoài giờ là một hình thức gắn kết chương trình học tập của nhà trường với đời sống văn học. Chính vì vậy, tôi khuyến khích học sinh đọc càng nhiều truyện phù hợp với lứa tuổi các em càng tốt. Và đó cũng là mục tiêu riêng của kiểu bài này. Để tạo ra được thói quen ham đọc sách ở học sinh cần có sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình.

          – Với phụ huynh học sinh, trong những lần gặp gỡ như: họp cha mẹ học sinh hay đến thăm gia đình, tôi đã đề nghị gia đình mua sách, báo, truyện phù hợp với lứa tuổi các em như: Báo thiếu niên tiền phong, Truyện cổ tích … cho các em đọc và rèn cho các em thói quen đọc sách, truyện ở nhà.

          – Ở trường, tôi luôn nhắc nhở học sinh xuống Thư viện để mượn sách, báo, truyện hay ra Tủ sách dùng chung để đọc và cùng tham gia trao đổi, bình luận về nhân vật, về ý nghĩa câu chuyện với các em giống như một người bạn.

          – Ở lớp, tôi cũng thường có mang đến cho các em đọc những quyển sách, báo, truyện có nội dung gần gũi với các em mà tôi đã mua hoặc mượn được.

          – Học sinh kể những ngoài sách giáo khoa là điều rất đáng mừng và rất đáng khích lệ. Để khích lệ học sinh ham đọc sách, giáo viên cần có biện pháp động viên kịp thời như thưởng thêm 1 điểm “ham đọc sách” và coi trọng lời khen, hướng học sinh trong lớp nhận ra câu chuyện bạn kể là không có trong SGK.

* Biện pháp 5: Giáo viên ham đọc sách, báo, truyện

          Không chỉ với học sinh mà chính giáo viên cũng rất cần chăm đọc sách, truyện. Qua dự giờ, tôi thấy giáo viên khi học sinh kể chuyện ngoài SGK thì rất lúng túng khi nhận xét học sinh kể chuyện có đúng nội dung hay không? cho nên, mỗi người giáo viên chúng ta cũng cần thường xuyên đọc truyện thiếu nhi.

          Với 5 biện pháp mang tính đặc trưng của kiểu bài “Kể chuyện đã nghe, đã đọc” nêu trên cùng với một số biện pháp chung của phân môn kể chuyện (trình bày phần sau) tôi đã vận dụng vào dạy tiết kể chuyện cụ thể và đã được đánh giá tốt trong đợt hội giảng cấp trường vừa qua.

 

                                KỂ CHUYỆN ĐÃ NGHE, ĐÃ ĐỌC (tuần 26)

Đề bài: Kể lại một câu chuyện nói về lòng dũng cảm mà em đã được nghe hoặc được đọc.

I/ MỤC TIÊU: Học sinh biết.

          1- Kĩ năng

        a) Rèn kĩ năng nói: Kể tự nhiên bằng lời kể của mình một câu chuyện (hoặc đoạn truyện) đã nghe, đã đọc có nhân vật, có ý nghĩa nói về lòng dũng cảm của con người.

          Trao đổi với bạn về ý nghĩa, nhân vật trong truyện.

          b) Rèn kĩ năng nghe: Lắng nghe bạn kể, nhận xét đúng lời kể của bạn.

          2- Kiến thức:

          Hiểu nội dung chính của các câu chuyện ( đoạn truyện) : ca ngợi lòng dũng cảm của con người.

* HS KG: kể được câu chuyện ngoài SGK và nêu rõ ý nghĩa.

          3- Thái độ:

      – Học tập tinh thần dũng cảm của các nhân vật trong các câu chuyện.

          – Ham đọc sách.

II/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

          – Giáo viên – học sinh sưu tầm truyện về lòng dũng cảm.

          – Bảng phụ:

          * Kể chuyện:

          – Giới thiệu câu chuyện

                     + Nêu tên câu chuyện.

                   + Nêu tên nhân vật.

          – Diễn biến của câu chuyện, nhấn mạnh hành động anh hùng, dũng cảm của nhân vật.

III/ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

1- Kiểm tra bài cũ: (4 phút)

- Yêu cầu học sinh kể: “Những chú bé không chết”

- Nhận xét,  đánh giá.

- Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh

2- Bài mới: (29 phút)

a) Giới thiệu bài:

- Ghi đề bài lên bảng

b) Tìm hiểu đề bài:

* Xác định đề: Những từ ngữ nào trong đề bài giúp em xác định được trọng tâm của đề?

GV gạch chân từ -> nhấn mạnh đề bài.

* Chọn truyện:

Các em nhớ lại, trong những bài đã được từ các lớp dưới có rất nhiều bài nói về lòng dũng cảm của con người. Hãy kể một số bài có nội dung như thế.

Dựa vào tên các bài học mà học sinh đưa ra, GV hỏi để học sinh nhận ra đó là những câu chuyện nói về lòng dũng cảm trong các lĩnh vực: (GV ghi bảng)

- Dũng cảm trong chiến đấu

- Dũng cảm trong đấu tranh chống thiên tai

- Dũng cảm trong đấu tranh vì lẽ phải

- Dũng cảm trong đấu tranh với bản thân mình

GV: Đó là một số bài mà các em đã được học nói về lòng dũng cảm. Ngoài ra ta có thể tìm những truyện tương tự các truyện trên ở đâu?

 

 

GV: Có rất nhiều nguồn để các em tìm truyện nói về lòng dũng cảm. Em nào kể được câu chuyện ngoài sách giáo khoa thì được cộng thêm 1 điểm ham đọc sách.

Bây giờ các em hãy giới  thiệu tên câu chuyện mình sẽ kể.

* Dàn ý truyện:

- Để người nghe hiểu sâu sắc câu chuyện mình kể thì khi kể, các em cần lưu ý gì?

- GV đưa bảng phụ, nhấn mạnh

- GV: trước khi các em kể cô lưu ý:

+ Kể tự nhiên với giọng kể chuyện, nhìn vào bạn đang nghe mình kể.

+ Với chuyện khá dài, em chỉ cần kể 1,2 đoạn.

c) Thực hành kể chuyện – trao đổi nội dung

* Kể chuyện theo cặp (5 phút)

- GV theo dõi giúp đỡ học sinh

* Thi kể chuyện trước lớp (20 phút)

GV: Bây giờ, các em sẽ kể câu chuyện của mình cho cả lớp cùng nghe. Các em nhớ kể tự nhiên giống như đang kể cho người thân nghe và kết hợp cử chỉ, nét mặt điệu bộ cho câu chuyện thêm sinh động. Còn chúng ta sẽ cùng nghe bạn kể, trao đổi với bạn về nhân vật, nội dung, ý nghĩa câu chuyện và đánh

giá bạn theo 3 tiêu chuẩn. Đó là những tiêu chuẩn nào?

- GV ghi bảng: Tiêu chuẩn đánh giá:

+ Nội dung câu chuyện

+ Khả năng hiểu truyện

+ Cách diễn đạt

+ Truyện ngoài sách

- GV: Gọi học sinh lên kể trước lớp.

- Khi học sinh lên kể, GV ghi tên học sinh, tên truyện lên bảng.

- Lưu ý: Khi tổ chức cho học sinh trao đổi về nội dung, nhân vật, ý nghĩa câu chuyện, giáo viên nhắc học sinh các hình thức trao đổi để đánh giá sự trùng lặp (học sinh kể hỏi học sinh lớp dưới, học sinh lớp dưới hỏi học sinh kể, giáo viên hỏi học sinh).

- GV chốt, gắn hoa điểm lên bảng.

- GV: Cô thấy câu chuyện nào cũng hay, bạn nào kể cũng hấp dẫn. Theo các em, trong tiết kể chuyện hôm nay, bạn nào kể chuyện hấp dẫn nhất?

Cô tuyên dương bạn …….. và tuyên dương tất cả các em

(còn rất nhiều bạn muốn kể nữa nhưng thời gian không có nhiều nên các em sẽ kể vào lúc khác và  hãy kể cho người thân nghe)

3- Củng cố – dặn dò (2 phút)

- Qua các câu chuyện mà chúng ta vừa nghe và câu chuyện em đã chuẩn bị, em rút ra điều gì?

- Dặn dò: Thực hiện như lời Bác Hồ kính yêu dạy thiếu niên nhi đồng “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

- Chuẩn bị bài sau.

- 1 học sinh kể.

- Trao đổi về nội dung nhân vật.

- Nhận xét, đánh giá.

- Tổ trưởng báo cáo.

 

 

- Học sinh đọc đề bài.

 

- Học sinh xác định.

 

 

 

 

 

Một số học sinh nêu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

( Gợi ý 2)

- Truyện cổ tích

- Truyện về các anh hùng trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc

- Truyện hoặc tin tức đăng trên báo

- Truyện thiếu nhi

 

 

 

- Một số học sinh giới thiệu.

 

 

- Học sinh nêu ( gợi ý 3)

 

 

 

 

 

 

 

 

Học sinh kể chuyện theo cặp, trao đổi về nhân vật ý nghĩa câu chuyện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Học sinh nêu

 

 

 

 

- 5 – 7 học sinh kể

- Trao đổi về nội dung, nhân vật…

 

 

 

 

 

 

- Học sinh nhận xét, đánh giá.

 

 

 

- Học sinh bình chọn.

 

 

 

 

 

 

 

- Học sinh nêu.

- Liên hệ.

 

 

3. Đối với kiểu bài: Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia

  SGK Tiếng Việt 4 có tổng số 31 tiết kể chuyện. Trong đó kiểu bài này chỉ chiếm có 8 tiết. Không phải vì kiểu bài này không được coi trọng mà vì kiểu bài này mới và khó hơn nên nó chỉ bắt đầu dạy từ tuần thứ 9. Kiểu bài này đòi hỏi sự sáng tạo ở mức cao hơn. Nếu trong hai kiểu bài trước, học sinh  chỉ ghi nhớ và kể lại những câu chuyện đã có sẵn cốt truyện, nhân vật thì ở kiểu bài thứ 3 này, các em phải nhớ lại những câu chuyện mình được tận mắt chứng kiến hoặc chính mình tham gia, rồi dựa vào cách thức xây dựng câu chuyện đã được học trong giờ TLV để sắp xếp lại các chi tiết, sự kiện và kể lại, tạo nên một văn bản nói có đầu có cuối, có nhân vật, ý nghĩa mang đậm dấu ấn cá nhân.

          Để dạy kiểu bài kể chuyện này, tôi đã tiến hành một số biện pháp sau:

* Biện pháp 1: Giúp học sinh chuẩn bị được câu chuyện đã chứng kiến hoặc tham gia theo đúng yêu cầu.

          Kể chuyện có thực gắn với chủ điểm là một yêu cầu khó nhưng có thể khắc phục được bằng sự chỉ dẫn của giáo viên. Điều kiện đầu tiên để dạy thành công tiết kể chuyện chứng kiến hoặc tham gia là giáo viên giúp học sinh chuẩn bị tốt khâu tìm truyện, khơi gợi suy nghĩ, vốn sống của học sinh, khuyến khích các em quan sát, nhớ lại những sự việc có thật xảy ra trong đời sống xung quanh. Tôi luôn yêu cầu học sinh chuẩn bị 1 tuần trước giờ kể chuyện. Mặc dù đã được chuẩn bị trước 1 tuần nhưng sự hướng dẫn của giáo viên trong phần phân tích, tìm hiểu đề là rất quan trọng, Khâu này, tôi sử dụng triệt để những câu hỏi, gợi ý, dàn bài trong sách giáo khoa để giúp học sinh xây dựng câu chuyện theo đúng yêu cầu của đề bài. Để tránh khó khăn cho học sinh đại trà, tôi luôn nhắc học sinh của mình không cần tìm những câu chuyện li kì, phức tạp. Điều cốt yếu là truyện có nhân vật, có ý nghĩa và phù hợp với chủ điểm.

* Biện pháp 2: Lập dàn ý chi tiết cho câu chuyện

          Đây là kiểu bài mang đầy tính sáng tạo nhưng lại phải gắn với chủ điểm nhất định nên lập dàn ý cho câu chuyện định kể sẽ giúp giáo viên nắm bắt được câu chuyện ấy có đúng theo yêu cầu không? Còn học sinh sẽ dựa vào đó để diễn đạt thành câu chuyện.

          Ví dụ: Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia – Tuần 9

          Đề bài: Kể một câu chuyện em được nghe chứng kiến hoặc trực tiếp tham gia thể hiện tinh thần kiên trì vượt khó.

          + Lập dàn ý cho câu chuyện.

          – Mở đầu câu chuyện: Giới thiệu nhân vật, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện.

          – Diễn biến câu chuyện: Trình bày các khó khăn mà nhân vật gặp phải và lòng kiên trì vượt khó của nhân vật.

         – Kết thúc câu chuyện: Nêu kết quả mà nhân vật đạt được hoặc nêu nhận xét về nhân vật, về ý nghĩa câu chuyện.

* Biện pháp 3: Tăng vốn hiểu biết, vốn sống cho học sinh.

          Để học tốt kiểu bài này, yêu cầu học sinh phải biết quan sát cuộc sống xung quanh và tích cực tham gia các hoạt động, và khi các em đã có thói quen quan sát cuộc sống xung quanh và tích cực tham gia các hoạt động bổ ích phù hợp với khả năng thì vốn hiểu biết, vốn sống của các em đã được tăng lên.

          Ví dụ: Tuần 24

          - Đề bài:  Em (hoặc người xung quanh) đã làm gì để góp phần giữ gìn xóm làng (đường phố, trường học) xanh, sạch, đẹp? hãy kể lại câu chuyện đó.

          – Với đề bài này, học sinh có thể kể câu chuyện của chính mình về những việc mình đã làm góp phần cho xóm làng ….sanh, sạch, đẹp hoặc người xung quanh làm mà em đã từng quan sát.

          Lần đầu tiên học sinh được làm quen với kiểu bài này ở tuần học thứ 13. Với tôi, để gây ấn tượng tốt cho học sinh về kiểu bài Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia thì sự chuẩn bị của giáo viên (và cả học sinh ) là cực kỳ quan trọng. Ngay từ tiết đầu tiên, tôi muốn cho học sinh thấy rằng: Đây là kiểu bài kể chuyện khó nhưng không phải mình không làm được. Và quả thực, cùng với sự chuẩn bị chu đáo, sự cố gắng hết mình của giáo viên và học sinh, tiết học đã diễn ra hết sức sôi nổi và bước đầu đạt kết quả đáng khích lệ.

                KỂ CHUYỆN ĐƯỢC CHỨNG KIẾN HOẶC THAM GIA (tuần 13)

Đề bài: Kể lại một câu chuyện em được chứng kiến hoặc trực tiếp tham gia thể hiện tinh thần kiên trì vượt khó.

I/ MỤC TIÊU:

1- Kĩ năng:

          a) Rèn luyện kĩ năng nói: Dựa vào SGK, HS chọn được một câu chuyện mình được chứng kiến hoặc tham gia thể hiện tinh thần kiên trì vượt khó. Biết sắp xếp sự việc thành một câu chuyện. Biết trao đổi với các bạn về ý nghĩa câu chuyện.

          Lời kể tự nhiên, chân thực, có thể kết hợp với cử chỉ, điệu bộ.

          b) Rèn kĩ năng nghe: Nghe bạn kể, nhận xét đúng lời kể của bạn.

2- Kiến thức: Học sinh hiểu ý nghĩa của các câu chuyện: Ca ngợi những người có tinh thần kiên trì vượt khó.

3- Thái độ:          – Có tinh thần kiên trì vượt khó trong học tập và cuộc sống.

                   – Có ý thức quan sát cuộc sống xung quanh.

II/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:

                    – Bảng phụ chép dàn ý câu chuyện ( gợi ý 2- SGK)

                   – HS chuẩn bị truyện.

1- Kiểm tra bài cũ (4 phút)

                                        

Yêu cầu 1 học sinh kể lại một câu chuyện đã nghe, đã đọc về những người có nghị lực (tiết kể chuyện trước).

- Nhận xét, đánh giá.

- Kiểm tra sự chuẩn bị của HS.

2- Bài mới (29 phút)

a) Giới thiệu bài: GV ghi đề bài

b) Hướng dẫn tìm hiểu đề bài

* Xác định đề:

- Yêu cầu học sinh đọc đề bài – GV ghi bảng

- Xác định những từ trọng tâm? – GV gạch từ

- Em hiểu thế nào là chứng kiến, thế nào là trực tiếp tham gia?

- Người có tinh thần vượt khó là người như thế nào?

- GV nhấn mạnh đề bài.

 

* Chọn truyện

- Hãy tìm ví dụ về tinh thần vượt khó

(Có thể cho học sinh đọc gợi ý 1)

- Hướng dẫn quan sát tranh: Em hiểu như thế nào về nội dung từng bức tranh?

- GV nhấn: Cần phải kể những câu chuyện có thật về tinh thần kiên trì vượt khó. Vậy em kể về ai?

* Lập dàn ý:

- Để người nghe hiểu được câu chuyện mình sẽ kể thì câu chuyện đó phải có mấy phần? Đó là những phần nào? Nội dung từng phần nêu gì?

- GV đưa bảng phụ – nhấn mạnh.

- Hãy lập nhanh dàn ý ra giấy nháp.

- GV khen những học sinh lập dàn ý cho bài kể chuyện từ trước khi lên lớp.

c) Thực hành kể chuyện và trao đổi về ý nghĩa câu chuyện

* Kể chuyện theo cặp (5 phút)

- GV quan sát giúp đỡ học sinh .

* Thi kể chuyện trước lớp (20 phút)

- Nêu tiêu chuẩn đánh giá?

- GV ghi bảng:

+ Nội dung câu chuyện

+ Cách dùng từ, đặt câu

+ Cách diễn đạt

- GV gọi một số học sinh lên kể trước lớp.

- GV ghi tên học sinh, tên truyện trên bảng, gắn bông hoa ghi điểm,

- Nhận xét, đánh giá (GV ghi một vài câu hay hoặch câu văn mắc lỗi về dùng từ lên bảng để học sinh nhận xét, học tập hoặc rút kinh nghiệm)

3- Củng cố dặn dò (2 phút)

- Em học tập được điều gì ở các nhân vật trong những câu chuyện mà chúng ta vừa nghe?

- Dặn dò: Về nhà kể cho người thân nghe và xem trước bài tuần sau.

-.1 học sinh kể

- Trao đổi về nhân vật, ý nghĩa câu chuyện

- Nhận xét, đánh giá

- Tổ trưởng báo cáo.

 

 

 

 

- 2 học sinh đọc

- Học sinh nêu

 

 

- Học sinh nêu

 

 

 

 

- Học sinh nêu

 

- HS nêu.

 

- 5 – 6 học sinh giới thiệu truyện sẽ kể.

 

 

- Một số học sinh trả lời.

 

 

- Học sinh làm cá nhân

 

 

 

 

- Học sinh kể nhóm đôi

 

 

- Học sinh nêu

 

 

 

 

- 5- 7 học sinh kể chuyện,

- Trao đổi về nội dung, ý nghĩa câu chuyện,

- Nhận xét, đánh giá

- Bình chọn bạn kể hấp dẫn nhất trong tiết kể chuyện,

 

 

- Học sinh nêu

 

 

 

 

 

       Nhờ vận dụng các biện pháp mang tính đặc trưng của kiểu bài kể chuyện dạng 3 này vào giảng dạy trong năm học này, tôi đã đạt được kết quả như sau:

Lớp 4A: Năm học 2010 – 2011:

 

Số HS

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

dưới 5

33 em

11 em = 33%

13 em = 40%

 9 em= 27%

   0 em

          – Năm học 2009 – 2010  cùng thời điểm đánh giá (giữa học kì II) tại  lớp 4B  khi chưa vận dụng các biện pháp.

 

Số HS

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

dưới 5

  35 em

6 em = 17%

15 em = 43%

14 em = 40%

    0 em

2- Đối với cả 3 kiểu bài:

          Như đã trình bày ở trên, 3 kiểu bài trong phân môn kể chuyện lớp 4 đều có mục tiêu riêng nhưng chúng cũng có mục tiêu chung. Do đó cũng có những biện pháp đặc trưng cho riêng từng kiểu bài nhưng cũng có những biện pháp chung cho cả 3 kiểu bài kể chuyện. Đó là:

*Biện pháp 1:  Cho học sinh thực hành kể nhiều và trao đổi với nhiều hình thức

          – Cần coi trọng việc kể chuyện nhóm đôi hay nhóm lớn trong học sinh. Khi kể theo nhóm thì học sinh chậm, học sinh rụt rè, nhút nhát sẽ được tham gia tích cực và dần dần sẽ góp phần giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn. Còn đối với học sinh khá thì sẽ giúp các em nâng cao kĩ năng kể chuyện (kể diễn cảm, kể đóng vai).

          – Giáo viên định hướng ngay trong những tiết kể chuyện đầu tiên về các câu hỏi đưa ra để trao đổi, thảo luận với hình thức phong phú, tránh sự trùng lặp.

      Ví dụ: Nếu học sinh thứ nhất kể chuyện xong đã chủ động đưa ra câu hỏi rồi thì khi học sinh thứ hai có thể nói: “Có bạn nào muốn trao đổi với tôi điều gì không ?”.

          – Thi kể chuyện trước lớp:

          Sau khi các học sinh thi kể chuyện xong, giáo viên tổ chức nhận xét, đánh giá bằng những bông hoa ghi điểm xinh xắn bằng giấy gắn lên.

* Biện pháp 2: Nắm chắc các tiêu chí đánh giá.

          – Trước khi cho học sinh kể chuyện, giáo viên cần cho học sinh nhắc lại các tiêu chí đánh giá cho từng kiểu bài:

          + Kiểu bài 1:

                   – Nội dung câu chuyện

                   – Khả năng hiểu truyện

                   – Cách diễn đạt

              + Kiểu bài 2:

                   – Nội dung câu chuyện

                   – Khả năng hiểu truyện

                    – Cách diễn đạt

                   – Truyện ngoài sách

                   + Kiểu bài 3:

                   – Nội dung câu chuyện

                   – Cách dùng từ, đặt câu

                   – Cách diễn đạt

          – Thời gian đầu năm, học sinh chưa nắm chắc các tiêu chí đánh giá , tôi ghi ra băng giấy đính lên bảng và sử dụng nhiều lần cho đến khi học sinh đã nắm chắc các tiêu chí.

          – Khi học sinh nhận xét chưa đầy đủ, giáo viên đưa câu hỏi gợi ý.

* Biện pháp 3: Động viên, khuyến khích học sinh kịp thời.

          Đây là biện pháp quan trọng và có tác dụng rất lớn đối với tất cả các môn học, trong đó có phân môn kể chuyện. Dù là học sinh có khả năng ghi nhớ và diễn đạt tốt hay học sinh chậm, rụt rè thì các em đều thích được động viên, khuyến khích.

          – Đối với học sinh có khả năng diễn đạt chưa tốt và rụt rè.

          Tôi thiết nghĩ, giờ Kể chuyện là một tiết “Tập làm văn miệng” đặc biệt, một dịp rất tốt để bồi dưỡng học sinh kém về ngôn ngữ nói, học sinh rụt rè. Đây là đối tượng học sinh rất được quan tâm. Bởi lẽ, để giúp các em trở thành người mạnh dạn, tự tin trong tương lai thì ngay hôm nay phải giúp các em mạnh dạn trước các bạn trong lớp, để các em có cơ hội rèn luyện và thành công, để các em có niềm tin vào bản thân, tạo đà cho những cố gắng tiếp theo. Trong các giờ chuyện (và các giờ học khác nữa) tôi luôn giành thời gian đáng kể cho đối tượng học sinh này kể chuyện từng đoạn nối tiếp theo tranh (đứng trước lớp và nhìn tranh trên bảng).

          – Nếu có em đang kể bỗng lúng túng vì quên một vài chi tiết, tôi đã nhắc nhở hay gợi ý một cách nhẹ nhàng để em đó nhớ lại câu chuyện và kể tiếp.

          Ví dụ: Câu chuyện “Sự tích Hồ Ba Bể

          – Có học sinh kể tới đoạn 2: Mẹ con bà goá mời bà cụ về nhà mình nghỉ. Và không nhớ nổi tình tiết tiếp theo là gì nữa. Tôi đã gợi ý: “Đêm hôm đó, mẹ con bà goá nhìn thấy gì?” Nhờ câu hỏi gợi ý đó mà học sinh đã kể được hết đoạn 2 của câu chuyện.

          – Cũng có trường hợp học sinh kể thiếu chính xác. Trong trường hợp này, giáo viên cũng cần hết sức tế nhị, không nên ngắt ngang lời kể mà chỉ nhận xét khi các em đã kể xong. Đặc biệt, không dùng lời nhận xét mang tính chỉ trích như: “Em kể sai rồi” mà chỉ nhắc nhở “Lần sau em cố gắng chú ý hơn nhé” hoặc “Em về chỗ nghe các bạn khác kể và lát nữa em kể lại nhé”

          – Cũng có học sinh yếu về ngôn ngữ nói, nhưng trong tiết kể chuyện do có hứng thú và có cảm xúc thực sự với câu chuyện nên các em kể khá tốt một đoạn. Đây là một cơ hội tốt để động viên, khuyến khích các em, làm cho các em tự tin hơn và cố gắng hơn. Tóm lại, mục tiêu đề ra với học sinh này là học sinh nắm được tóm tắt nội dung truyện và kể được nội dung ấy đơn giản theo ngôn ngữ của các em.

          – Đối với những học sinh có khả năng ghi nhớ cao hơn và mạnh dạn hơn

          Đây chính là đối tượng học sinh cần được bồi dưỡng kĩ năng kể chuyện diễn cảm và sáng tạo. Về mặt thực tế, những học sinh có năng khiếu tạo một không khí hứng thú cho tiết kể chuyện, làm cho lớp học sôi nổi, thúc đẩy phong trào học tập chung của cả lớp. Những học sinh này thoát li hoàn toàn  khỏi tranh, tự kể lại câu chuyện theo trí nhớ của mình. Trong thực tế, học sinh có thể hồn nhiên thêm vào đó một số câu chữ của mình hoặc sắp xếp câu chữ theo cách hiểu riêng, giáo viên cũng không nên quá cứng nhắc mà nhắc nhở là “không được”. Miễn sao các em kể đúng nội dung câu chuyện, kể được câu chuyện bằng giọng điệu của mình như sống với câu chuyện, thể hiện được cảm nhận của mình về câu chuyện đó, trong trường hợp này giáo viên và học sinh nhận xét và chỉ rõ một vài tình tiết, yếu tố sáng tạo sẽ kích thích học sinh sáng tạo hơn.

          Ví dụ: Câu chuyện “Con vịt xấu xí”

          Đoạn 1: Sắp đến mùa đông, vợ chồng thiên nga cùng đứa con nhỏ xíu bay về phương Nam tránh rét. Vì đứa con nhỏ và yếu ớt nên chúng phải nghỉ lại dọc đường. May mắn, ở chỗ dừng chân chúng gặp một cô vịt đang chuẩn bị cho đàn con xuống ổ. Hai vợ chồng liền nhờ cô chăm sóc giùm thiên nga con và hứa sang năm sẽ quay trở lại đón con. Có học sinh đã kể: Mùa đông lạnh giá sắp đến, gia đình thiên nga bay về phương Nam tránh rét. Dọc đường, đứa con nhỏ xíu của họ bị mệt nên vợ chồng thiên nga không thể đi tiếp, phải nghỉ lại. May quá, họ gặp một cô vịt đang chuẩn bị cho đàn con sắp nở. Vợ chồng thiên nga liền nhờ cô vịt chăm sóc thiên nga con và hứa năm sau sẽ quay trở lại đón con.

IV/ HIỆU QUẢ CỦA SKKN:

          Ngay từ đầu năm khi mới nhận lớp, tôi đã rất chú ý đến khả năng  ngôn ngữ của học sinh. Qua tìm hiểu, tôi thấy, bên cạnh rất ít số học sinh nói năng trôi chảy, mạch lạc và mạnh dạn khi giao tiếp thì đa phần là học sinh rụt rè, nhút nhát, ngại giao tiếp với giáo viên và ngại nói trước các bạn bởi khả năng diễn đạt của các em rất hạn chế. Sau gần một năm tự tìm tòi nghiên cứu chương trình, học hỏi đồng nghiệp để hoàn thiện đề tài: “Dạy Kể chuyện lớp 4” tôi đã thu được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ ở lớp mình chủ nhiệm. Học sinh rất hào hứng, sôi nổi trong giờ kể chuyện với cả 3 kiểu bài. Số học sinh mạnh dạn, tự tin giao tiếp, số học sinh có khả năng diễn đạt trôi chảy mạch lạc tăng lên nhiều. Đặc biệt, 100% số học sinh ham đọc sách. Ngoài việc đều đặn mượn truyện, sách báo trong Thư viện nhà trường, các em còn được bố mẹ đặt mua sách báo ở nhà. Do đó, vốn từ ngữ của các em được bổ sung đáng kể giúp cho việc học tốt các môn học khác. Bên cạnh đó, sự hiểu biết của các em về cuộc sống xung quanh cũng được tăng lên rõ rệt. Các em nhận thức rất nhanh về những việc làm đúng để học tập và những việc làm sai để tránh… Điều này rất quan trọng cho việc hình thành nhân cách con người mới, những con người năng động, có khả năng thích ứng với đời sống xã hội luôn biến đổi.

   Về phía mình, tôi cũng nắm được khá chắc các phương pháp dạy học các kiểu bài kể chuyện, chủ động hơn trong các giờ lên lớp, khiến cho mỗi tiết kể chuyện diễn ra nhẹ nhàng, tự tin, hiệu quả.

   

                                                C- KẾT LUẬN

I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

          Qua nghiên cứu đề tài, qua thực tế áp dụng, tôi rút ra kinh nghiệm đó là:

1- Về phía giáo viên: Muốn dạy tốt phân môn Kể chuyện

          + Phải nắm chắc nội dung dạy học các mục tiêu cần trang bị cho học sinh, nắm chắc các phương pháp dạy học đặc trưng của từng kiểu bài.

* Đối với kiểu bài 1:

          – Trước khi giáo viên kể chuyện cần định hướng sự chú ý của học sinh bằng cách yêu cầu học sinh quan sát tranh trong SGK.

          – Nhất thiết giáo viên phải thuộc truyện phải kể bằng lời kể  của chính mình và sử dụng các biện pháp phụ trợ như: nét mặt, cử chỉ, điệu bộ hay các thủ pháp như: đổi giọng, kéo dài giọng, ngừng kể một giây lát để gây sự hồi hộp, chú ý của học sinh.

          – Sử dụng tranh minh hoạ trong lần kể thứ hai để mọi đối tượng học sinh đều nắm được nội dung, tình tiết câu chuyện.

* Đối với kiểu bài 2:

          – Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị một tuần trước giờ kể chuyện. Khuyến khích mọi đối tượng học sinh đều tìm được câu chuyện theo đúng chủ đề để kể.

          – Động viên, khuyến khích học sinh kể tự nhiên, sáng tạo bằng lời kể của mình.

          – Giáo viên cần thường xuyên đọc truyện thiếu nhi, đọc sách báo để nâng cao hiểu biết, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của giờ kể chuyện đã nghe, đã đọc.

* Đối với kiểu bài 3:

          Giáo viên cần yêu cầu học sinh chuẩn bị bài 1 tuần trước giờ kể chuyện, cần hướng dẫn học sinh ở mọi trình độ đều tìm được những câu chuyện phù hợp, không yêu cầu học sinh tìm những câu chuyện li kì, phức tạp. Điều cốt yếu là chuyện có thật, có ý nghĩa và phù hợp với chủ điểm.

          Đối với cả 3 kiểu bài, giáo viên cần tổ chức tốt hoạt động kể chuyện theo nhóm đôi, đây là bước rất quan trọng giúp học sinh tự tin hơn trước khi kể chuyện trước lớp.

          + Trong giờ kể chuyện, giáo viên giúp cho mỗi học sinh, cả những học sinh yếu kém cũng có cơ hội được rèn luyện và thành công, để các em có niềm tin về vào bản thân, tạo đà cho những cố gắng tiếp theo. Trong mỗi giờ kể chuyện, càng nhiều học sinh được kể trước lớp càng tốt.

          – Giáo viên cần phải có tâm hồn “trẻ thơ” hoà mình vào câu chuyện vào suy nghĩ của học sinh. Có như vậy, mới phá bỏ được hàng rào vô hình ngăn cách giữa học sinh và giáo viên, phá bỏ sự sợ hãi đứng trước giáo viên của học sinh, tạo học sinh tâm lí thoải mái nhẹ nhàng, tự nhiên nghe đang kể chuyện cho người thân nghe.

          – Tổ chức hoạt động trao đổi về nội dung, nhân vật, ý nghĩa câu chuyện bằng các hình thức đa dạng, phong phú, nhiều chiều (giáo viên với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh).

          + Khi tổ chức cho lớp nhận xét lời kể của một học sinh, cần hướng các em đi tìm cái đáng học, đáng khen, tránh chăm chăm “vạch lá tìm sâu”, tìm khuyến điểm của bạn. Lời nhận xét của giáo viên cần nêu đúng ưu khuyết điểm trong lời kể của học sinh nhưng diễn đạt khéo léo, tế nhị sao cho mỗi em vẫn cảm thấy mình đạt được ít nhiều thành công, tiến bộ nhỏ nhất của các em để các em thêm tự tin, phấn khích, càng ngày càng tiến bộ nhiều hơn. Cho học sinh tự đánh giá lẫn nhau.

          Một điều cần chú ý, đối với giờ kể chuyện, giáo viên chỉ là người điều khiển giúp đỡ học sinh trong quá trình chuẩn bị, tổ chức, khích lệ học sinh kể chuyện và tổ chức việc đánh giá kết quả còn học sinh phải hoạt động một cách tích cực, chủ động.

2- Đối với học sinh

          – Cần xem trước các bức tranh và các yêu cầu bài tập trong SGK ( đối với kiểu bài 1) và chuẩn bị bài trước giờ Kể chuyện.

          – Tích cực hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

          – Mạnh dạn kể chuyện trước lớp, mạnh dạn trao đổi với các bạn xoay quanh bài kể chuyện, kể kết hợp thay đổi giọng điệu, cử chỉ, nét mặt tăng thêm phần hấp dẫn cho câu chuyện.

          – Chăm đọc sách báo, quan sát cuộc sống đang diễn ra xung quanh.

II/ Ý NGHĨA CỦA SKKN

- Sau khi tìm tòi nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp đã nêu trên vào thực tế giảng dạy Kể chuyện, tôi nhận thấy bản thân tôi đã nắm chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêng chắc hơn; khả năng tổ chức dạy- học tiết Kể chuyện đã cao hơn trước. Tôi cảm thấy rất tự tin và hào hứng khi tổ chức dạy- học kể chuyện cho học sinh. Qua đó, chuyên môn của cá nhân tôi càng thêm vững vàng.

- Về phía học sinh, học sinh rất hào hứng với giờ Kể chuyện. Ở đó, học sinh được nói, được kể cho nhau nghe những điều mình biết, mình làm ( theo chủ đề). Nhờ đó, khả năng ngôn ngữ của học sinh được nâng lên, kĩ năng giao tiếp phát triển, học sinh trở nên mạnh dạn, tự tin hơn. Không những thế, học sinh còn được hình thành nhiều thói quen tốt như: ham đọc sách, quan sát cuộc sống và tham gia các hoạt động có ích phù hợp với lứa tuổi.

III/ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI

          Đề tài này có thể áp dụng rộng rãi với mọi giáo viên giảng dạy lớp 4 và tất cả học sinh lớp 4 đang học chương trình của Bộ Giáo Dục.

IV/ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.

          Để nâng cao chất lượng dạy – học nói chung và Kể chuyện lớp 4 nói riêng, tôi mạnh dạn đề xuất một số ý kiến sau:

1- Đối với lãnh đạo:

          – Cần tạo điều kiện quan tâm hơn nữa trong việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên.

          – Tổ chức các chuyên đề dạy kể chuyện để giáo viên trao đổi, học hỏi kinh nghiệm.

2- Đối với giáo viên

          – Tự học hỏi nâng cao hiểu biết, nâng cao trình độ nghiệp vụ.

          – Yêu quý học sinh bằng cả trái tim người mẹ (người cha) và trách nhiệm của người thầy.

          Trên đây là kinh nghiệm “Dạy Kể chuyện lớp 4″ mà tôi đã trình bày, nghiên cứu và áp dụng trong quá trình giảng dạy. Tuy bước đầu đã đạt những kết quả đáng khích lệ, song mức độ thành công chưa phải đã là cao, nên tôi phải tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề trong quá trình giảng dạy lâu dài. Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều biện pháp mà tôi chưa được biết đến, trong quá trình nghiên cứu còn hạn chế, tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của các cấp lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp để kinh nghiệm trên được áp dụng có hiệu quả.

                                                                          Tôi xin chân thành cảm ơn./.

 

 

 

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 – Nhà xuất bản  Giáo dục .

2.     Sách giáo viên Tiếng Việt 4 – Nhà xuất bản  Giáo dục .

3.     Hỏi- đáp về dạy học Tiếng Việt 4 – Nhà xuất bản  Giáo dục .

4.     Dạy Kể chuyện ở Tiểu học – Nhà xuất bản  Giáo dục .

5.     Dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học – Nhà xuất bản  Giáo dục.

         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tranh ảnh hay các mẫu vật có sức thu hút rất lớn với các em. Để giúp học sinh nhớ nhanh và hiểu sâu sắc câu chuyện thì mỗi giáo viên cần chú ý tới điểm này.

          – Để phát huy tác dụng của tranh trong sách giáo khoa của học sinh, trước hết khi kể chuyện lần thứ nhất, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh minh hoạ và gợi ý dưới tranh cũng như yêu cầu học sinh đọc yêu cầu của giờ kể chuyện, nhằm giúp các em có ấn tượng chung về giờ kể chuyện.

          – Khi kể chuyện lần 2, giáo viên vừa kể vừa chỉ vào tranh. Lúc này tranh minh hoạ là điểm tựa để học sinh phát huy trí tưởng tượng, giúp các em ghi nhớ truyện.

          – Khi các em luyện kể chuyện, các em sẽ dựa vào tranh để kể từng đoạn hay cả truyện. Với những học sinh yếu, giáo viên kết hợp hướng dẫn học sinh quan sát tranh cùng gợi ý các em khi kể.

Biện pháp 3: Giáo viên rèn luyện để có cách kể chuyện hấp dẫn

          Khi kể chuyện, giáo viên cần kết hợp cử chỉ, giọng điệu, nét mặt… để cuốn hút học sinh và học sinh có nhu cầu kể được hay như thầy, cô. Muốn vậy, giáo viên cần:

          – Đọc kĩ câu chuyện, hiểu câu chuyện.

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ

DẠY PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN LỚP 4-5.

Người viết báo cáo: Nguyễn Thị Mai Hoa

Ngày báo cáo       : 05 – 10 – 2009

 

I. LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:

A. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Phân môn kể chuyện lớp 4 – 5 giúp học sinh:

a) Củng cố kĩ năng kể chuyện đã được hình thành và rèn luyện ở các lớp 1; 2; 3 đồng thời hình thành kĩ năng mới về kể chuyện.

          – Rèn luyện kĩ năng:

          + Củng cố kĩ năng kể chuyện đã được hình thành ở các lớp dưới: Học sinh lớp 4 – 5 tiếp tục củng cố kĩ năng kể chuyện qua bài tập “Nghe kể lại câu chuyện vừa nghe giáo viên kể trên lớp”.

          Đây là kiểu bài tập kể chuyện ở tuần thứ nhất trong một chủ điểm học tập. Trong trường hợp này, câu chuyện được in trong sách giáo viên, trình bày thành tranh hoặc tranh kèm lời dẫn giải ngắn gọn trong sách giáo khoa, được thầy cô giáo kể cho học sinh nghe, rồi học sinh kể lại. Bên cạnh mục đích chung là rèn luyện kỹ năng nói, kiểu bài này còn có mục đích rèn luyện kỹ năng nghe cho học sinh.

        + Hình thành kỹ năng mới ( với lớp 4), củng cố kĩ năng về kể chuyện (với lớp 5).

* Kể chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ kể chuyện.

Đây là kiểu bài tập kể chuyện ở tuần thứ hai trong một chủ điểm học tập. Những câu chuyện này, học sinh phải tự sưu tầm trong sách báo hoặc trong đời sống hằng ngày (nghe người thân hoặc ai đó kể). Bên cạnh mục đích chung là rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài này còn có mục đích kích thích học sinh ham đọc sách.

* Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia:

Đây là kiểu bài tập kể chuyện ở tuần thứ 3 trong một chủ điểm học tập. Kiểu bài này gồm những câu chuyện là chuyện người thật, việc thật mà học sinh là một nhân vật trong đó. Trường hợp này đòi hỏi sự sáng tạo ở mức cao hơn: Học sinh phải nhớ lại những câu chuyện được chứng kiến hoặc tham gia rồi dựa vào cách thức xây dựng câu chuyện đã được học trong giờ Tập làm văn để sắp xếp lại các chi tiết rồi kể.

          Bên cạnh mục đích chung là rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài tập này còn có mục đích rèn cho học sinh thói quen quan sát, ghi nhớ.

          Do loại bài này khó nên chỉ được bắt đầu dạy từ tuần thứ 9 (với lớp 4).

b) Mở rộng hiểu biết, góp phần hình thành nên nhân cách con người mới.

          * Với câu chuyện kể ở lớp 4 có nội dung liên quan đến 10 chủ điểm học tập:

          + Thương người như thể thương thân (Lòng nhân ái)

          + Măng mọc thẳng (Tính trung thực, lòng tự trọng)

          + Trên đôi cánh ước mơ (Mơ ước)

          + Có chí thì nên (Nghị lực)

          + Tiếng sáo diều (Vui chơi)

          + Người ta là hoa đất (Năng lực, trí tuệ)

          + Vẻ đẹp muôn màu (Óc thẩm mỹ)

          + Những người quả cảm (Lòng dũng cảm)

          + Khám phá thế giới (Du lịch thám hiểm)

          + Tình yêu cuộc sống (Lạc quan, yêu đời)

* Các câu chuyện ở lớp 5 liên quan đến 10 chủ điểm học tập:

+ Việt Nam – Tổ quốc em

+ Cánh chim hoà bình

+ Con người với thiên nhiên

+ Giữ lấy màu xanh

+ Vì hạnh phúc con người

+ Người công dân

+ Vì cuộc sống thanh bình

+ Nhớ nguồn

+ Nam và nữ

+ Những chủ nhân tương lai

- Cùng với nội dung học tập ở các phân môn khác, nhất là ở các bài tập đọc, tập làm văn, những câu chuyện học sinh được đọc, được nghe, được kể ở lớp 4-5 có tác dụng rất lớn trong việc mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con người, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm nhân cách cho học sinh. Để phát huy đầy đủ  tác dụng của phân môn kể chuyện, giáo viên cần chú ý tổ chức cho học sinh trao đổi để nắm chắc ý nghĩa câu chuyện hoặc nói lên nhận xét riêng của các em về các nhân vật, các tình tiết câu chuyện.

c) Góp phần tích luỹ vốn sống, vốn văn học cho học sinh .

          Giờ kể chuyện giúp học sinh tiếp xúc với tác phẩm văn học. Suốt 5 năm ở bậc Tiểu học, học sinh được nghe và tham gia kể rất nhiều câu chuyện với đủ thể loại. Đó là những tác phẩm có giá trị văn học của Việt Nam và thế giới. Những câu chuyện này sẽ làm giàu vốn văn học cho các em. Đó cũng là hành trang quí báu sẽ theo các em suốt cả cuộc đời.

          Giờ kể chuyện còn mở rtộng tầm hiểu biết, khêu gợi chí tưởng tượng cho học sinh. Theo từng câu chuyện, các em sẽ tìm thấy ở trong truyện từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, từ những thân phận và biết bao hành động nghĩa hiệp của con người trong các trường hợp khác nhau. Truyện kể làm tăng vốn hiểu biết về thế giới và xã hội loài người, chắp cánh trí tưởng tượng và ước mơ của học sinh , thúc đẩy sự sáng tạo của các em.

B. CƠ SỞ THỰC TẾ.

1. Về phía giáo viên.

- Giáo viên còn giảng giải nhiều trong việc hướng dẫn HS tìm truyện nên thời gian HS thực hành kể chuyện chưa nhiều.

- Giáo viên chưa quan tâm đến thể hiện giọng điệu, cử chỉ, nét mặt của mình khi kể cho học sinh nghe nên kém đi sự hấp dẫn của câu chuyện, từ đó giảm đi sự hứng thú muốn nghe kể chuyện của HS.

- Giáo viên chưa thực sự quan tâm đến kể chuyện theo nhóm trong học sinh.

- Giáo viên chưa đưa ra được các hình thức động viên, khích lệ kịp thời để khuyến khích học sinh kể chuyện.

2- Về phía học sinh.

          – Nhiều học sinh còn rút rè, nhút nhát, nhất là những học sinh chậm, yếu.

          – Các câu hỏi học sinh đưa ra hỏi, thảo luận còn đơn điệu theo lối mòn.

          – Số học sinh kể chuyện diễn cảm, sống thực với nhân vật, hoá thân vào câu chuyện rất ít.

          – Trong một giờ kể chuyện, số học sinh được kể trước lớp còn ít.

          – Học sinh khó khăn trong việc tìm câu chuyện được chứng kiến hoặc tham gia theo chủ điểm.

II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

A. Đối với kiểu bài: Nghe kể lại câu chuyện vừa nghe.

Biện pháp 1: Giáo viên đọc và tìm hiểu câu chuyện sắp kể:

          – Với mỗi câu chuyện, giáo viên cần đọc đi đọc lại nhiều lần suy nghĩ về từng nhân vật, từng chi tiết trong truyện để hiểu truyện. Giáo viên luôn tự hỏi: Câu chuyện có những nhân vật nào? Tính cách của từng nhân vật ra sao? Câu chuyện nói về điều gì? Qua câu chuyện các em học được điều gì?…

Biện pháp 2: Giáo viên sử dụng đồ dùng chu đáo và sử dụng đồ dùng có hiệu quả.

          Tranh ảnh hay các mẫu vật có sức thu hút rất lớn với các em. Để giúp học sinh nhớ nhanh và hiểu sâu sắc câu chuyện thì mỗi giáo viên cần chú ý tới điểm này.

          – Để phát huy tác dụng của tranh trong sách giáo khoa của học sinh, trước hết khi kể chuyện lần thứ nhất, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát tranh minh hoạ và gợi ý dưới tranh cũng như yêu cầu học sinh đọc yêu cầu của giờ kể chuyện, nhằm giúp các em có ấn tượng chung về giờ kể chuyện.

          – Khi kể chuyện lần 2, giáo viên vừa kể vừa chỉ vào tranh. Lúc này tranh minh hoạ là điểm tựa để học sinh phát huy trí tưởng tượng, giúp các em ghi nhớ truyện.

          – Khi các em luyện kể chuyện, các em sẽ dựa vào tranh để kể từng đoạn hay cả truyện. Với những học sinh yếu, giáo viên kết hợp hướng dẫn học sinh quan sát tranh cùng gợi ý các em khi kể.

Biện pháp 3: Giáo viên rèn luyện để có cách kể chuyện hấp dẫn

          Khi kể chuyện, giáo viên cần kết hợp cử chỉ, giọng điệu, nét mặt… để cuốn hút học sinh và học sinh có nhu cầu kể được hay như thầy, cô. Muốn vậy, giáo viên cần:

          – Đọc kĩ câu chuyện, hiểu câu chuyện.

          – Xác định và thể hiện giọng điệu của từng đoạn truyện, từng nhân vật.

          – Tập kể chuyện.

Biện pháp 4: Kể chuyện sinh động trước học sinh.

   Đây là điều cực kỳ quan trọng và có sức thuyết phục lớn, lôi cuốn được học sinh. Khi đã chuẩn bị kĩ càng thì đây không phải là vấn đề khó với mỗi giáo viên. Khi kể chuyện trước học sinh, giáo viên cần chú ý tới các yếu tố phụ trợ như cử chỉ, nét mặt, điệu bộ phù hợp với tình tiết, diễn biến của câu chuyện.

B. Đối với  kiểu bài đã nghe đã được ngoài giờ kể chuyện:

Biện pháp 1: Giao nhiệm vụ cụ thể để học sinh tìm, lựa chọn câu chuyện đã nghe, đã đọc đúng chủ đề.

          – Giáo viên cần định hướng về chủ đề câu chuyện của tiết kể chuyện trước đó 1 tuần. Giáo viên cần chú ý sao cho mọi đối tượng học sinh đều tìm được câu chuyện phù hợp với khả năng của mình. Trong một vài trường hợp cụ thể, giáo viên có thể gợi ý để học sinh chậm, nhút nhát kể lại những đoạn (mẩu) truyện, câu chuyện trong SGK Tiếng Việt ở các lớp 1; 2; 3…

Biện pháp 2: Nhắc học sinh kĩ câu chuyện

   Học sinh đọc kĩ câu chuyện để nhớ, thậm chí thuộc để các em còn phải kể lại.

          Để chuẩn bị cho giờ học, học sinh phải đọc kĩ truyện, nhờ đó mà nhớ truyện, thuộc truyện. Vì vậy giáo viên không nên và cũng không thể cấm học sinh thuộc lòng câu chuyện các em đã kể trên lớp. Nếu có học sịnh do đọc kỹ mà thuộc truyện, kể sinh động, biểu cảm như sống với câu chuyện thì giáo viên nên đặc biệt khen học sinh đó. Nhờ thuộc như vậy, ngôn ngữ văn học sẽ thấm vào trẻ, dần dần chuyển hoá và trẻ sẽ dùng lại chúng một cách tự nhiên.

Biện pháp 3: Dừng hợp lí

          Với những câu chuyện dài, nếu để các em kể hết sẽ mất thời gian, nếu yêu cầu kể tóm tắt thì là yêu cầu khó với các em. Do vậy nên cho học sinh chọn 1; 2 đoạn mình thích để kể và nhắc các em kể tiếp cho nhau nghe trong giờ ra chơi…

Biện pháp 4: Khuyến khích học sinh ham đọc sách.

          Cần đề nghị gia đình học sinh mua sách, báo, truyện phù hợp lứa tuổi các em.

          – Thường xuyên nhắc nhở học sinh xuống thư viện hay ra tủ sách mượn sách, báo, truyện để đọc và cùng tham gia, trao đổi, bình luận về nhân vật, ý nghĩa câu chuyện… cùng các em.

          – Giáo viên có thể mang cho học sinh mượn những quyển sách báo, truyện có nội dung gần gũi với các em.

          – Để khích lệ những học sinh ham đọc sách, giáo viên cần có biện pháp động viên kịp thời như thưởng thêm 1 điểm ham đọc sách, coi trọng lời khen.

Biện pháp 5: Giáo viên ham đọc sách, báo, truyện…

C. Đối với  kiểu bài: Chứng kiến hoặc tham gia.

Biện pháp 1: Giúp học sinh chuẩn bị được câu chuyện chứng kiến hoặc tham gia đúng yêu cầu.

          – Giáo viên cần yêu cầu học sinh chuẩn bị câu chuyện của tiết kể chuyện trước đó 1 tuần. Khi hướng dẫn học sinh, giáo viên dành thời gian thích đáng để tìm hiều đề. Giáo viên cần sử dụng triệt để câu hỏi gợi ý, dàn bài trong SGK để giúp học sinh xây dựng câu chuyện theo đúng yêu cầu của đề bài. Đối với học sinh yếu giáo viên lưu ý không cần tìm những câu chuyện li kì, phức tạp. Điều quan trọng là truyện có nhân vật, có ý nghĩa phù hợp với chủ điểm.

Biện pháp 2: Lập dàn ý chi tiết cho câu chuyện.

  Đây là kiểu bài mang đầy tính sáng tạo nhưng phải gắn với chủ điểm nhất định, nên lập dàn ý cho câu chuyện sẽ giúp giáo viên nắm được câu chuyện ấy có đúng yêu cầu của đề bài không, còn học sinh sẽ dựa vào đó để diễn đạt thành câu chuyện.

          Lập dàn ý cho câu chuyện.

          + Mở đầu câu chuyện.

          + Diễn biến câu chuyện.

          + Kết thúc câu chuyện.

Biện pháp 3: Tăng vốn hiểu biết, vốn sống cho học sinh.

          Để học tốt kiểu bài này, yêu cầu học sinh phải biết quan sát cuộc sống   xung quanh và tích cực tham gia các hoạt động và khi các em đã có thói quen quan sát cuộc sống xung quanh và tích cực tham gia các hoạt động bổ ích phù hợp với khả năng thì vốn sống, vốn hiểu biết của các em được tăng lên.

D. CÁC BIỆN PHÁP CHUNG:

Biện pháp 1: Cho học sinh thực hành kể nhiều và trao đổi nhiều hình thức.

          – Cần coi trọng kể chuyện nhóm đôi hay nhóm lớn.

          – Giáo viên cần định hướng ngay trong những tiết kể chuyện đầu tiên về các câu hỏi đưa ra để trao đổi, thảo luận dưới nhiều hình thức phong phú tránh sự trùng lập.

          – Thi kể chuyện trước lớp: Sau khi học sinh thi kể chuyện xonggv tổ chức nhận xét, đánh giá bằng những bông hoa điểm tốt…

Biện pháp 2: Nắm chắc các tiêu chí đánh giá: Trước khi cho học sinh kể chuyện, giáo viên cần cho học sinh nhắc lại các tiêu chí đánh giá cho từng kiểu bài.

Kiểu bài 1

+ Nội dung

+ Khả năng hiểu truyện

+ Cách diễn đạt

 

Kiểu bài 2

+ Nội dung

+ Khả năng kiểu truyện

+ Cách diễn đạt

+ Truyện ngoài sách

Kiểu bài 2

+ Nội dung

+ Cách dùng từ, đặt câu

+ Cách diễn đạt

 

Biện pháp 3: Động viên khuyến khích học sinh kịp thời:

          + Đối với học sinh có khả năng diễn đạt chưa tốt và rụt rè, giáo viên  dành thời gian cho học sinh này kể chuyện từng đoạn (mẩu) truyện theo tranh (kiểu bài 1; 2). Đối với kiểu bài 3, học sinh có thể kể sự việc đơn giản đúng với yêu cầu.

          + Nếu đang kể mà lúng túng hoặc quên, giáo viên có thể gợi ý một cách nhẹ nhàng, giúp học sinh nhớ lại.

          + Nếu học sinh kể thiếu chính xác, giáo viên cần tế nhị tránh phê bình hoặc nói “ em kể sai rồi”  mà nhẹ nhàng nhắc nhở như: “ lần sau em cố gắng hơn nhé”…

          + Đối với  học sinh yếu về ngôn ngữ nói, nhưng trong tiết kể chuyện do có hứng thú và cảm xúc thực sự với câu chuyện nên các em kể khá tốt một đoạn thì giáo viên phải động viên khuyến khích các em ngay, làm cho các em tự tin hơn và cố gắng hơn.

          + Đối với học sinh có khả năng ghi nhớ cao và mạnh dạn tự tin. Những học sinh này có khả năng thoát li hoàn toàn khỏi tranh, tự kể theo trí nhớ của mình. Trong khi kể học sinh có thể hồn nhiên thêm vào đó một số câu chữ của mình, giáo viên không nên cứng nhắc nhắc là “không được” miễn là các em kể đúng nội dung kể câu chuyện bằng giọng của mình như sống với câu chuyện, thực hiện được cảm nhận của mình về câu chuyện đó. Giáo viên và học sinh cần nhận xét và chỉ rõ một vài tình tiết sáng tạo sẽ kích thích học sinh sáng tạo hơn.

III. QUY TRÌNH DẠY HỌC.

A. Dạy bài: “Nghe- kể lại câu chuyện vừa nghe trên lớp”

1- Kiểm tra bài cũ (3 – 4 phút)

          – Học sinh kể lại câu chuyện đã học trong tiết kể chuyện trước đó và trả lời một số câu hỏi về nội dung câu chuyện.

2- Dạy bài mới (32 – 36 phút)

a) Giới thiệu bài (1 phút)

          Giáo viên giới thiệu câu chuyện sắp kể bằng lời hoặc bằng lời kết hợp đồ dùng dạy học để định hướng sự chú ý của học sinh vào bài mới tạo hứng thú cho học sinh.

b) Học sinh nghe kể chuyện (4 – 5 phút)

          – Giáo viên kể lần 1: Học sinh nghe.

          – Giáo viên kể lần 2, vừa kể vừa chỉ vào tranh.

          Học sinh nghe kết hợp nhìn tranh minh hoạ.

c) Học sinh tập kể chuyện, trao đổi nội dung, ý nghĩa truyện (25 – 28 phút)

          + Kể theo nhóm (thường là nhóm đôi: 5 – 6 phút).

          + Kể từng đoạn nối tiếp.( Ưu tiên học sinh yếu, nhút nhát)

          + Kể toàn bộ câu chuyện ( Chú ý HS khá giỏi, HS mạnh dạn)

          + Trao đổi nội dung, ý nghĩa truyện

          + Thi kể chuyện trước lớp (19 – 22 phút)

          – Giáo viên (học sinh ) nêu 3 tiêu chí đánh giá.

          – Một vài tốp học sinh thi kể nối tiếp câu chuyện.

          – Thi kể toàn bộ câu chuyện (5 – 7 HS).

          – Mỗi nhóm, cá nhân kể xong, trao đổi cùng các bạn về nội dung, ý nghĩa câu chuyện.

          * Giáo viên và học sinh nhận xét, đánh giá, bình chọn nhóm, cá nhân kể chuyện hấp dẫn nhất, hiểu truyện nhất hoặc bạn có câu hỏi thú vị nhất.

3. Củng cố – dặn dò (2 phút)

          – Nêu ý nghĩa truyện (hoặc bài học rút ra)

          – Nhận xét tiết học.

          – Dặn, kể cho người thân nghe, chuẩn bị bài sau.

B. Dạy bài kể chuyện đã nghe, đã đọc, đã chứng kiến hoặc tham gia.

1- Kiểm tra bài cũ (3 – 4 phút)

          Học sinh kể lại câu chuyện đã học trong tiết học trước đó và trả lời một số câu hỏi về nội dung câu chuyện.

2- Dạy bài mới (32 – 36 phút)

a) Giới thiệu bài (1 phút)

          Giáo viên nêu yêu cầu kể chuyện của tiết học

b) Hướng dẫn tìm hiểu yêu cầu kể chuyện của tiết học (9 – 10).

          – Giáo viên viết đề -> học sinh đọc -> xác định từ ngữ trọng tâm.

          – Hướng dẫn học sinh tìm ví dụ hoặc các hướng xây dựng cốt truyện phù hợp với yêu cầu tiết học (theo gợi ý SGK).

          – Cho học sinh nối tiếp nhau nói tên truyện mình chọn hoặc hướng xây dựng cốt truyện  của mình (4-5HS)

          – Đưa dàn ý (ghi vắn tắt) -> học sinh đọc -> học sinh lập nhanh dàn ý.

          – Giáo viên lưu ý học sinh trước khi kể.

c) Thực hành kể chuyện – trao đổi nội dung, ý nghĩa câu chuyện (20 – 23’)

          – Kể chuyện theo cặp (6-7’)

          – Thi kể chuyện trước lớp.

          + Giáo viên (học sinh ) nêu 3 tiêu chí đánh giá.

          + 5 – 7 học sinh kể.

          + Mỗi học sinh kể xong trao đổi với bạn về nội dung, nhân vật, ý nghĩa câu chuyện.

          + Giáo viên và học sinh nhận xét, đánh giá, bình chọn bạn có câu chuyện hay nhất, bạn kể chuyện hấp dẫn nhất hoặc bạn có câu hỏi (trả lời) thú vị nhất.

          + Trao đổi nội dung, ý nghĩa truyện.

3- Củng cố – dặn dò (2’):

          – Nhận xét tiết học.

          – Dặn, kể cho người thân nghe, chuẩn bị bài sau.

IV. TRÌNH BÀY BẢNG:

Kiểu bài 1

                                      Thứ ……ngày ……tháng ….. năm …..

 KỂ CHUYỆN

                                                     Tên truyện

Ý NGHĨA

       Tên học sinh (điểm)

TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ

- Nội dung

- Khả năng hiểu truyện

- Cách diễn đạt

Kiểu bài 2 + 3:

Thứ ……. ngày …..tháng …….năm ……….

KỂ CHUYỆN

Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia)

Đề bài:

TÊN TRUYỆN

(Tên HS – Tên truyện – Điểm)

DÀN Ý

(Hoặc các hướng dẫn xây dựng cốt truyện)

TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ

- Nội dung

- Cách dùng từ đặt câu

( Khả năng hiểu truyện)

- Cách diễn đạt

Lưu ý: Thời gian đầu, giáo viên ghi tiêu chí đánh giá lên bảng, khi học sinh đã quen với việc nhận xét thì không nhất thiết phải ghi lên bảng nữa.

V. NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI DẠY KỂ CHUYỆN LỚP 4 + 5.

1- Khi dạy kiểu bài kể lại câu chuyện đã nghe giáo viên kể trên lớp:

          – Giáo viên kể chuyện và hướng dẫn học sinh kể lại câu chuyện theo đúng yêu cầu trong SGK (SGK gợi cho học sinh nhớ lại câu chuyện bằng tranh minh hoạ thì giáo viên không nên tăng thêm, giảm bớt số tranh hoặc thay đổi nội dung tranh trong SGK).

          – Giáo viên cần tế nhị hướng dẫn học sinh kể chuyện:

          + Nên động viên, khuyến khích để các em kể tự nhiên như đang kể cho anh, chị, em hay bạn bè ở nhà.

          + Nếu có em đang kể bỗng lúng túng vì quên tình tiết, chi tiết chuyện, giáo viên có thể nhắc một cách nhẹ nhàng để em đó nhớ lại câu chuyện. Nếu có em kể thiếu chính xác cũng không nên ngắt lời, chỉ nhận xét khi các em đã kể xong.

          + Chú trọng nhận xét lời kể của học sinh theo hướng khích lệ để các em luôn cố gắng.

2- Khi dạy kiểu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ kể chuyện.

          – Giáo viên cần yêu cầu học sinh chuẩn bị 1 tuần trước giờ kể chuyện.

          – Khi yêu cầu chuẩn bị bài, giáo viên cần hướng dẫn học sinh ở mọi trình độ đều tìm được những câu chuyện phù hợp, ví dụ:

          + Khuyến khích học sinh tìm những câu chuyện phù hợp với chủ điểm đang học trong sách báo ở thư viện hay của gia đình, bạn bè….

          + Đối với học sinh yếu, nhút nhát, có thể gợi ý kể lại những câu chuyện đã học trong các sách giáo khoa Tiếng Việt 1; 2. Nếu có điều kiện học sinh sử dụng “Truyện đọc 4, lớp 5” nhà xuất bản giáo dục.

          – Giáo viên cần quan niệm một cách đúng đắn về khả năng thuộc truyện của học sinh.

          + Khi yêu cầu học sinh chuẩn bị trước cho tiết kể chuyện đã nghe đã đọc, giáo viên không bắt buộc học sinh phải học thuộc lòng câu chuyện nhưng nên yêu cầu học sinh đọc kĩ và khuyến khích những học sinh ó khả năng thuộc lòng câu chuyện tìm được.

          + Nếu có học sinh do đọc kĩ mà thuộc truyện, kể sinh động, biểu cảm như sống với câu chuyện thì giáo viên khen ngợi. Nhờ thuộc lòng như vậy, ngôn ngữ văn học (từ ngữ, mẫu câu, nhạc điệu, hình ảnh văn học…) thấm vào trẻ, dần dần chuyển hoá, đến lúc nào đó, trẻ sẽ biết dùng lại chúng một cách tự nhiên. Cần hiểu bản chất của kể chuyện sáng tạo không phải là kể khác nguyên văn mà là kể tự nhiên như sống với câu chuyện, kể bằng ngôn ngữ, giọng điệu của mình, thể hiện được cảm nhận của mình về câu chuyện đó. Khi trẻ kể được một cách sống động nghĩa là em đã sáng tạo, đã đưa được cảm xúc riêng vào câu chuyện, làm cho văn bản truyện trở thành câu chuyện riêng của mình. Chỉ trong trường hợp học sinh kể như đọc văn bản, vừa kể vừa cố nhớ lại một cách máy móc văn bản mới chưa đạt yêu cầu.

          – Giáo viên cần thường xuyên đọc truyện thiếu nhi, đọc sách báo để không ngừng nâng cao hiểu biết của mình, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của giờ kể chuyện.

3- Dạy kiểư bài kể chuyện đã chứng kiến, tham gia:

          – Giáo viên cần yêu cầu học sinh chuẩn bị 1 tuần trước giờ kể chuyện.

          – Khi yêu cầu chuẩn bị bài, giáo viên cần hướng dẫn học sinh ở mọi trình độ đều tìm được những câu chuyện phù hợp, ví dụ:

          + Khuyến khích học sinh tìm những câu chuyện phù hợp với chủ điểm đang học.

          + Không cần tìm những câu chuyện li kì, phức tạp. Điều cốt yếu là chuyện có nhân vật, có ý nghĩa và phù hợp với chủ điểm.

          + Để xây dựng được câu chuyện, cần huy động những kiến thức về kể chuyện đã học trong các giờ Tập làm văn.

Người báo cáo

 

 

      Phạm Lương Thiện

 

 

 

 

 

 

 

 

About these ads

From → Uncategorized

Để lại phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: